Tản mạn về chuyện tác quyền trong sáng tác Kiến trúc tại Việt Nam (một số kinh nghiệm cá nhân từ công tác quản lý nhà nước về xây dựng và Hướng dẫn trình tự thực hiện Đăng ký quyền tác giả tác phẩm kiến trúc tại Việt Nam)

Sáng nay, Đà Nẵng trời se lạnh, mưa nhỏ do ảnh hưởng bởi cơn Bão số 8 đang tiến vào đất liền các tỉnh phía Bắc, một mình ngồi nhâm nhi ly cà phê đen, ngắm sông Hàn từ quán cà phê Tầng 12   Sở Xây dựng thành phố Đà Nẵng

     Ảnh tác giả bài viết: Ths KTS Trần Phước Hòa Bình - Phó Trưởng phòng Cấp phép xây dựng - Sở Xây dựng TPĐN

Tôi nhận được một cuộc điện thoại của em KTS tên Du, sinh viên kiến trúc khóa 2014, Trường ĐH Kiến trúc TP Hồ Chí Minh, đang công tác tại Cty Emaar TP HCM, hỏi: "em có đọc thông tin của anh là diễn giả tại Hội thảo Tác quyền trong sáng tác kiến trúc tại Việt Nam, nay em muốn hỏi làm thủ tục đăng ký quyền tác giả, tác phẩm cho một công trình kiến trúc mà em thiết kế, nhờ anh hướng dẫn giúp ah!". Nghe xong tôi cảm thấy hơi bất ngờ với sự quan tâm của một bạn KTS trẻ về vấn đề thú vị này, thế là tôi dành hẳn 38 phút để chia sẻ với bạn ấy, đại khái thế này:

Hiện nay, quy định pháp luật về vấn đề bạn hỏi rất nhiều, nhưng toàn lý thuyết, khó áp dụng, thiếu thực tiễn. Để dễ hiểu, dễ thực hành, trước tiên ta thử đánh giá lại việc xác định tác quyền trong sáng tác kiến trúc sẽ nằm ở giai đoạn nào trong toàn bộ quá trình tư vấn thiết kế xây dựng 1 công trình, dự án: từ giai đoạn tư vấn thiết kế sơ bộ, ký hợp đồng thiết kế, lập hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi, dự toán, đến lập hồ sơ thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở để trình xin Giấy phép và xây dựng, cuối cùng là giai đoạn nghiệm thu công trình đưa vào sử dụng (đối với loại công trình khác nhà ở riêng lẻ).

Vậy, giả sử sẽ xảy ra một vụ kiện tụng, tranh chấp về tác quyền trong sáng tác kiến trúc, thử hỏi Tòa án sẽ thu thập các tài liệu, chứng cứ nào để kiểm tra, đánh giá trong quá trình xét xử vụ án.

Theo kinh nghiệm của tôi, có thể thu thập các tài liệu như: Hợp đồng kinh tế về tư vấn thiết kế; Hợp đồng lao động giữa công ty tư vấn thiết kế với các Kiến trúc sư chủ trì thiết kế...; Giấy phép xây dựng kèm theo hồ sơ thiết kế được thẩm tra, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi và thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở; chứng chỉ hành nghề; văn bản xác nhận thời điểm khởi công xây dựng công trình của chính quyền địa phương; Thông báo khởi công xây dựng công trình của chủ đầu tư gửi cơ quan cấp xã (nếu không có thì đối chiếu Hợp đồng cung cấp điện, nước tại thời điểm khởi công…); văn bản chấp thuận nghiệm thu công trình đưa vào sử dụng...; Giấy chứng nhận bản quyền tác giả cho tác phẩm kiến trúc (nếu có); văn bản tham vấn của Hội Kiến trúc sư địa phương hay Trung ương đánh giá về kiến trúc các công trình có liên quan; các thông tin trên phương tiện truyền thông, truyền hình, báo đài, tài liệu chứng minh thời điểm đăng tải, công bố tác giả, tác phẩm kiến trúc, thời điểm thiết kế, xây dựng đưa công trình vào sử dụng cho đến việc kiểm tra đánh giá thực tế về kiến trúc 02 công trình có liên quan đến tranh chấp, kiện tụng về quyền tác giả, tác phẩm công trình kiến trúc.

Tuy nhiên, các đối tượng có liên quan đến việc tranh chấp kiện tụng này cũng cần xem lại các tài liệu mình đang nắm giữ, có đủ cơ sở pháp lý để tranh tụng và thắng kiện hay không?

Nghĩ cũng đáng lo cho thực trạng các hồ sơ tài liệu nêu trên tại Việt Nam, như:

- Hợp đồng tư vấn thiết kế toàn do các bạn tay ngang tự soạn, tự biên, tự diễn, "save as" từ các Hợp đồng mà mình cho là đúng rồi cứ thế lưu truyền, nhiều khi cũng chỉ chằm hăm đến giá thiết kế, tiến độ, trách nhiệm các bên, chủ yếu về giai đoạn chuyển tiền... mà coi nhẹ về quyền tác giả, tác phẩm công trình kiến trúc; Đặc biệt nội dung Hợp đồng đa phần có nhiều điều khoản không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Hiện nay, nhiều tình trạng KTS thiết kế kiến trúc không có chứng chỉ hành nghề chủ trì thiết kế kiến trúc, Công ty tư vấn thiết kế không đủ năng lực hoạt động xây dựng (Hạng, cấp công trình được phép thiết kế), dẫn đến việc phải thuê, mượn chứng chỉ hành nghề hay thuê pháp nhân Công ty khác đóng dấu tư vấn thiết kế, mà trớ trêu Công ty có dấu hợp pháp nhưng chứng chỉ hành nghề của KTS chủ trì đôi khi cũng "ma", dẫn đến việc "tự mình hại mình", rất khó xác định quyền tác giả, tác phẩm kiến trúc, đây là bài toán nan giải khi chúng ta tranh tụng tại Tòa án, khi các tài liệu, chứng cứ quan trọng này gặp phải "sự cố" như trên.

- Hợp đồng lao động giữa Công tư vấn thiết kế và KTS: Đã nói đến tác phẩm kiến trúc thì có thể do cá nhân KTS hay Công ty tư vấn kiến trúc lập, nhiều lúc lại do Liên danh các Công ty tư vấn thiết kế nữa. Vậy, đôi khi cũng cần tính đến các điều khoản rạch ròi về sử dụng, sở hữu..., quyền tác giả, tác phẩm kiến trúc giữa các đơn vị thuộc Liên danh, giữa Công ty tư vấn kiến trúc với KTS chủ trì thiết kế công trình kiến trúc đó, kể cả phải tính đến trường hợp KTS chủ trì thiết kế công trình kiến trúc đó chuyển công tác sang đơn vị khác thì việc sở hữu, sử dụng,... tác phẩm kiến trúc đó giải quyết thế nào? Hiện nay chắc KTS cũng chỉ nghĩ ký Hợp đồng với Công ty tư vấn thiết kế lương tháng bao nhiêu, thời gian làm việc thế nào, các khoản khác cũng ít quan tâm. Vì vậy, theo tôi các Công ty tư vấn thiết kế tại Việt Nam cần thuê Luật sư chuyên ngành để tư vấn các Hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động cho đảm bảo các quyền và nghĩa vụ hợp pháp, làm cơ sở pháp lý vững chắc để tranh tụng tại Tòa án đối với các vụ án về quyền tác giả, tác phẩm kiến trúc.

- Giấy phép xây dựng, văn bản thẩm định kèm theo Hồ sơ thiết kế: cơ sở pháp lý cao nhất có lẽ là hồ sơ được duyệt kèm theo Giấy phép xây dựng hay thông báo kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi và thông báo kết quả thẩm định hồ sơ thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở. Như đã nêu trên, thực trạng vay mượn chứng chỉ hành nghề, thuê pháp nhân Công ty thiết kế; Kể cả 90% hồ sơ có chữ ký scan hoặc vẽ bằng Autocad để in rồi đóng dấu thì làm gì có giá trị pháp lý để tranh tụng. May thay, hiện nay theo mẫu Giấy phép xây dựng, các văn bản thông báo kết quả thẩm định thiết kế xây dựng của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng theo Nghị định 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính Phủ, đều quy định ngoài việc ghi rõ đơn vị tư vấn thiết kế kiến trúc còn bổ sung thông tin KTS chủ trì bộ môn kiến trúc...

Hình: Mẫu số Giấy phép xây dựng - Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 15/2021/ND0-CP ngày 15/3/2021 của Chính Phủ

Tuy nhiên, phải khẳng định hồ sơ thiết kế kiến trúc công trình được cơ quan chức năng đóng dấu thẩm định kèm theo Giấy phép xây dựng là tài liệu quan trọng để xác định thời điểm và kiến trúc xây dựng để tranh tụng; nhưng không thể coi là một dạng như Giấy chứng nhận bản quyền tác giả cho tác phẩm kiến trúc được, bởi khó có thể yêu cầu cơ quan cấp Giấy phép xây dựng xác định công trình vi phạm tác quyền trong sáng tác kiến trúc trong thời hạn giải quyết thủ tục về cấp GPXD công trình. Mà đơn vị tư vấn thiết kế kiến trúc và chủ trì bộ môn kiến trúc phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật nếu vi phạm tác quyền trong sáng tác kiến trúc, để xảy ra tranh chấp kiện tụng.

Chính vì thế trước khi Công ty tư vấn thiết kế hay Kiến trúc sư đủ tư cách pháp lý để làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận bản quyền tác giả cho tác phẩm kiến trúc. Theo tôi, trước tiên nên rà soát lại toàn bộ quá trình thực hiện Hợp đồng, lập hồ sơ thiết kế đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho Công ty và Kiến trúc sư về quyền tác giả, tác phẩm kiến trúc.

Trình tự thực hiện Đăng ký quyền tác giả tác phẩm kiến trúc:

Theo Thông báo ngày 30/9/2021 của Cục Bản quyền tác giả - Bộ VHTTDL.

Nộp HS trực tuyến: https://dichvucong.bvhttdl.gov.vn/dvc/thuTucHanhChinh?dv=511

- Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp 01 hồ sơ đăng ký quyền tác giả tại trụ sở Cục Bản quyền tác giả hoặc Đại diện Phòng đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hồ Chí Minh, Đại diện Phòng đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Đà Nẵng. Hồ sơ có thể gửi qua đường bưu điện.

- Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Cục Bản quyền tác giả cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả. Trong trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả thì phải thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn.

* Cách thức thực hiện:

Nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện đến Cục Bản quyền tác giả,    Đại diện Phòng đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hồ Chí Minh, Đại diện Phòng đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Đà Nẵng.

* Thành phần, số lượng hồ sơ:

- Thành phần hồ sơ, bao gồm:

(1) Tờ khai đăng ký quyền tác giả (Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư  số 08/2016/QĐ-BVHTT ngày 02 tháng 7 năm 2016 quy định các biểu mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan).

Tờ khai phải được làm bằng tiếng Việt và do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc người được ủy quyền nộp đơn ký tên và ghi đầy đủ thông tin về người nộp đơn, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; tóm tắt nội dung tác phẩm; tên tác giả, tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh nếu tác phẩm đăng ký là tác phẩm phái sinh; thời gian, địa điểm, hình thức công bố; cam đoan về trách nhiệm đối với các thông tin ghi trong đơn;

(2) Hai bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả;

(3) Giấy uỷ quyền, nếu người nộp đơn là người được uỷ quyền;

(4) Tài liệu chứng minh quyền nộp đơn, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đó của người khác do được thừa kế, chuyển giao, kế thừa;

(5) Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả;

(6) Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả thuộc sở hữu chung.

Các tài liệu quy định tại các điểm 3, 4, 5 và 6 trên đây phải được làm bằng tiếng Việt; trường hợp làm bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt.

- Số lượng hồ sơ: 01 bộ.

* Thời hạn giải quyết:

15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ.

* Đối tượng thực hiện TTHC, gồm: Cá nhân, tổ chức.

* Cơ quan thực hiện TTHC:

- Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

- Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Cục Bản quyền tác giả.

* Kết quả thực hiện TTHC: Giấy chứng nhận.

* Phí:

- Phí cấp Giấy chứng nhận quyền tác giả: 300.000 đồng/Giấy chứng nhận.

Mức thu trên áp dụng đối với các loại hình tác phẩm:

  1. Tác phẩm kiến trúc;

b) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình,...

* Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai:

Tờ khai đăng ký quyền tác giả (Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư  số 08/2016/QĐ-BVHTTDL ngày 02/7/2016 quy định các biểu mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan).

* Căn cứ pháp lý của TTHC:

(Link tải các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan quy định về Sở hữu trí tuệ: https://1drv.ms/u/s!Aoqly193xuoLhp57Yq5LnchqV9PN7w?e=yGDbet)

- Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005. Có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006.

- Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ ngày 19 tháng 6 năm 2009. Có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.

- Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2018 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan. Có hiệu lực từ ngày 10 tháng 4 năm 2018.

- Thông tư số 08/2016/QĐ-BVHTT ngày 02 tháng 7 năm 2016 quy định các biểu mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan. Có hiệu lực từ ngày 15 tháng 8 năm 2016.

- Thông tư số 211/2016/TT-BTC ngày 10 tháng 11 năm 2016 quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan đến tác giả. Có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.

       Trên đây là chia sẻ một số kinh nghiệm cá nhân từ công tác quản lý nhà nước về xây dựng và Hướng dẫn trình tự thực hiện Đăng ký quyền tác giả tác phẩm kiến trúc tại Việt Nam. Chúc KTS Du và KTS quan tâm đến lĩnh vực này biết để thực hiện các bước xây dựng cơ bản đúng quy định, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người Kiến trúc sư với tác phẩm kiến trúc của mình, đồng thời hiểu rõ để thực hiện thủ tục Đăng ký quyền tác giả tác phẩm kiến trúc tại Việt Nam.

Tác giả bài viết: Ths KTS Trần Phước Hòa Bình - Phó Trưởng phòng Cấp phép xây dựng - Sở Xây dựng TPĐN, UVBCH - Phó Ban kiểm tra Hội KTS Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội KTS Đà Nẵng.

Tin cùng chuyên mục






Liên kết web Liên kết web

SỞ XÂY DỰNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Địa chỉ: Tầng 12, 13 Trung tâm Hành chính - 24 Trần Phú - Quận Hải Châu - TP Đà Nẵng
Điện thoại: (0236) 3.822.134 - Fax: (0236) 3.828.587
Website: sxd.danang.gov.vn - Email: sxd@danang.gov.vn

Trang thông tin điện tử nội bộ

Chịu trách nhiệm chính:

Ông Phùng Phú Phong, Giám đốc Sở Xây dựng thành phố Đà Nẵng 
Đăng nhập